Lê Thanh P và Trần Phương C là bạn học thời trung học cơ sở. Nhà P và nhà C ở cùng ấp. P thường đi xe do ông Trần N (cha của C) chở thuê. Chiều ngày 03/11/2016, P dùng điện thoại di động với số điện thoại 01628.559.406 gọi và thuê ông N chở P từ chợ về nhà P. Sau khi về nhà, P dùng điện thoại di động với số điện thoại 01636.382.553 điện thoại cho ông N nhưng P không nói chuyện và nhắn tin đe dọa hãm hại C nhằm chiếm đoạt tiền của C để trả nợ. Chiều ngày 04/11/2016, P dùng số điện thoại 01636.382.553 tiếp tục nhắn tin cho ông N đe dọa không để yên cho C. Ông N điện thoại báo cho C (đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh) biết có số điện thoại lạ (01636.382.553) nhắn tin vào máy ông N đe dọa C. C dùng điện thoại di động với số điện thoại 01652.447.444 gọi vào số máy 01636.382.553 để hỏi ai đã nhắn tin đe dọa C, C chửi P, P nghe máy nhưng không nói chuyện. P sử dụng 02 số điện thoại 01636.382.553 và 01664.962.675, nhắn tin đe dọa C với nội dung: có người thuê P tạt axit C với giá 5.000.000đồng. Nếu C đưa cho P 10.000.000đồng, P sẽ không làm. P đang theo dõi, biết rõ hoàn cảnh gia đình C. Nếu C không đưa 10.000.000đồng, P sẽ giết cha C. C sợ P sẽ hãm hại C và gia đình C, nên đồng ý giao 10.000.000đồng cho P. P hẹn C giao 10.000.000đồng cho P vào sáng ngày 05/11/2016 tại nhà xe MT ở Bến Tre). P thuê vợ chồng Phạm H (chạy xe ôm) đến nhận 10.000.000đồng do người quen gửi về cho P tại nhà xe MT. Vợ chồng H đến nhà xe MT, chờ hoài không thấy có người giao tiền thì bỏ về (vợ chồng H không biết P có hành vi cưỡng đoạt tài sản). Sau đó, hành vi của P đã bị cơ quan Công an phát hiện.
Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện GT, tỉnh Bến Tre đã tuyên bố Lê Thanh P phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản":
- Áp dụng khoản 1 Điều 135; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 18; Điều 52 và Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 06 tháng tù.
Sau khi tuyên án sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, cùng quan điểm với Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: Khi quyết định hình phạt Toà án cấp cấp sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét tính chất, mức độ, hành vi thực hiện tội phạm và tất cả tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 18; Điều 52 Bộ luật Hình sự nên tuyên phạt bị cáo P 06 tháng tù là thể hiện chính sách khoan hồng của Pháp luật. Với những nhận định trên Toà Phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y án sơ thẩm.
Với phán quyết của Toà Phúc thẩm thể hiện tính nghiêm minh và mang tính giáo dục, răn đe đối với những người chỉ nghĩ đến vật chất mà không nghĩ đến tình nghĩa, bạn bè.
Nguyễn Ngọc Nồm – Phòng 7 Viện KSND tỉnh Bến Tre