Chào mừng bạn đã đến với website www.vksbentre.gov.vn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Chúc bạn có ngày làm việc vui vẻ và thành công !

Ngày 13/11/2020, Quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và ngày 30/3/2021, Quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật Phòng, chống ma túy. Cả hai Luật này đều có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022, trong đó có quy định mới về đối tượng, điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với nội dung như sau:

1. Về đối tượng áp dụng

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định theo hướng không quy định cụ thể đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà viện dẫn đến Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.

Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;

2. Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;

3. Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện;

4. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”.

Ngoài ra, độ tuổi người nghiện ngày càng trẻ hóa, nhất là trong độ tuổi từ 12 đến dưới 18, trong khi pháp luật hiện hành không quy định đưa người nghiện ma túy ở độ tuổi này vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, các trường hợp người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tương tự như người từ đủ 18 tuổi trở lên được quy định Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, cụ thể: Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dt cai nghiện ma túy tự nguyện; b) Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; c) Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện”; thời hạn cai nghiện ma túy bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi là từ đủ 06 tháng đến 12 tháng.

Việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Tòa án nhân dân cấp huyện quyết định và không phải là biện pháp xử lý hành chính.

2. Về điều kiện áp dụng

Cả hai Luật mới đã không còn quy định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (đối với người có nơi cư trú ổn định) mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Theo đó, nếu thuộc đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 sẽ bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, không còn sự phân biệt giữa người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định và người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định.

3. Về thủ tục áp dụng

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến người nghiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn tối đa thời gian thực hiện các công việc, quá trình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, người có thẩm quyền xem xét áp dụng.

Không còn quy định việc kiểm tra tính pháp lý thành một thủ tục riêng biệt, độc lập; không quy định thẩm quyền kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định cơ quan nào lập hồ sơ đề nghị thì phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của hồ sơ đó, cụ thể:

Điều 103. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định:

1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 96 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

b) Đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

c) Trường hợp người nghiện ma túy do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan. Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 96 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó;

d) Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan;

đ) Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều này.

2. Cơ quan lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 Điều này phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.

Quy định trên đã khắc phục, giải quyết được thực trạng hiện nay là việc kiểm tra tính pháp lý thành một thủ tục riêng biệt, độc lập nhưng chỉ mang tính hình thức, không thật sự cần thiết, không có hiệu quả, làm kéo dài thời gian xem xét, áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tui đến dưới 18 tuổi cũng quy định tương tự như người nghiện ma túy đủ 18 tuổi trở lên được quy định tại Điều 34 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

4. Về thời gian chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 đã quy định thời gian chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ) ngắn hơn nhiều so với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ), cụ thể tại khoản 1 Điều 104 quy định “Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ, Công an cấp tỉnh gửi hồ sơ cho Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi người bị đề nghị áp dụng biện pháp có hành vi vi phạm; Công an cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã gửi hồ sơ cho Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện quyết định chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện chuyển lại cơ quan đã lập hồ sơ để bổ sung hồ sơ; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Quy định mới nêu trên cũng nhằm giải quyết thực trạng hiện nay là các cơ quan gặp rất nhiều vướng mắc khi thực hiện thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 phải trải qua rất nhiều bước, hồ sơ chuyển qua nhiều cơ quan như Công an xã, Chủ tịch UBND xã, Công an huyện, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện mất nhiều thời gian, nhiều tầng nấc khác nhau trước khi chuyển cho Tòa án xem xét, quyết định áp dụng.

Về hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn giữ nguyên quy định như Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Tóm lại, các quy định mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 nói chung cũng như các quy định mới liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nói riêng sẽ được tổ chức triển khai thi hành hiệu quả trong thực tiễn, góp phần nâng cao công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại vi phạm hành chính, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; đồng thời bảo đảm tốt hơn nữa quyền con người, quyền công dân./.

Thạch Thiện – VKSND huyện Mỏ Cày Bắc