Chào mừng bạn đã đến với website www.vksbentre.gov.vn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Chúc bạn có ngày làm việc vui vẻ và thành công !

 

VIỆN KSND TỐI CAO

VIỆN KSND TỈNH BẾN TRE


Số: 156/KL-VKS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bến Tre, ngày 27 tháng 5 năm 2014

                       

KẾT LUẬN

Kiểm tra toàn diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm


Thực hiện Kế hoạch kiểm tra số: 93/KH-VKS, ngày 03/04/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Ngày 20/5/2014, Đoàn kiểm tra Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre do Đ/c Võ Minh Thưởng, Phó Viện trưởng làm Trưởng đoàn, đã tiến hành kiểm tra toàn diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm. Kết quả ghi nhận như sau:

1. Kiểm sát điều tra và xét xử sơ thẩm hình sự

- Tiếp nhận 74 tin báo tội phạm (cũ 11, mới 63). Đã phối hợp phân loại xử lý: 46 tin (đạt 62,2%); trong đó khởi tố hình sự: 31 tin; không khởi tố 10 tin; chuyển xử lý theo thẩm quyền: 05 tin; còn lại 28 tin (quá hạn 07 tin), chiếm 25%.

- Thụ lý KSĐT: 53 vụ/66 bc (cũ 20 vụ/25 bc, mới 33 vụ/41 bc); phối hợp chọn 09 vụ án điểm (chiếm 27,2%/án mới khởi tố).

- Kết thúc điều tra đề nghị truy tố 38 vụ/55 bc; tạm đình chỉ: 04 vụ/01 bc và hàng tháng có phối hợp CQĐT rà soát, kiểm tra án tạm đình chỉ, qua đó đã phục hồi điều tra 01 vụ/01 bc, đình chỉ 01 vụ (do hết thời hiệu).

- Viện kiểm sát phải giải quyết: 38 vụ/55 bc (số mới); đã truy tố: 34 vụ/49 bc, (đạt 89,5%/án đã giải quyết), còn ở Viện kiểm sát 04 vụ/06 bc

- Kiểm sát thụ lý xét xử: 44 vụ/60 bc (cũ: 10 vụ/11 bc, mới 34 vụ/49 bc; đã xét xử: 36 vụ/48 bị cáo; trong đó phối hợp xử lưu động: 06 vụ (chiếm 13,6%/án đã xét xử). Kết quả xét xử không có trường hợp nào Toà tuyên bị cáo không phạm tội. Tổ chức 02 phiên tòa rút kinh nghiệm về kỷ năng thẩm vấn, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, có mời Kiểm sát viên trong và ngoài đơn vị đến dự.

- Không có án đình chỉ điều tra và án hoàn hồ sơ điều tra bổ sung.

* Qua kiểm tra cho thấy:

- Về sổ: Sổ theo dõi tin báo, tố giác tội phạm; các sổ quản lý án hình sư; sổ tổng hợp vi phạm: Số liệu phát sinh trong kỳ được cập nhật và phản ảnh đầy đủ nội dung các cột mục.

- Về hồ sơ:Qua kiểm tra 61 hồ sơ (kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm: 04, không khởi tố: 12, tạm đình chỉ: 04, chưa kết thúc điều tra và truy tố chờ xét xử: 15, đã xét xử: 26) cho thấy: Án không khởi tố, án tạm đình chỉ, kiểm sát điều tra, truy tố chờ xét xử, đã xét xử: Có căn cứ, đúng luật định, xét xử đúng người, đúng tội; KSV thực hiện đầy đủ các thao tác nghiệp vụ, luận tội lập luận chặt chẽ, trái quan điểm có báo cáo đề xuất đầy đủ.

 * Tuy nhiên,  đơn vị còn tồn tại một số vấn đề sau:

- Về sổ sách: Sổ ghi vi phạm của Cơ quan điều tra đơn vị cập nhật không đầy đủ (chỉ ghi được 01 vi phạm, nhưng thực tế CQĐT vi phạm  nhiều hơn).

- Án Kiểm sát điều tra, truy tố, án không khởi tố và án tạm đình chỉ:

+ Quyết định phân công KSV, Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh tạm giam không đóng dấu (vụ Châu Văn Đời, Đào Văn Công, Đào Công Danh).

+ Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản hỏi cung bị can không có chữ ký của Điều tra viên (vụ Trần Thị Loan); biên bản tiếp nhận tin không có chữ ký người báo tin; khám nghiệm hiện trường không có Điều tra viên, Kiểm sát viên tham gia và sử dụng sai mẫu quy định.

+ Vụ án Phạm Hồng Vi và đồng phạm bị khởi tố về tội “Buôn bán hàng cấm”, nhận thấy Trần Trúc Lâm có dấu hiệu phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

- Án đã xét xử: Có 13 vụ (Dương, Hộ, Luân, Duy, Thanh, Chung, Quang, Bình, Quốc, Phụng, Tới, Thuận, Hùng, Tuấn) đề cương xét hỏi thực hiện sau kết thúc phiên tòa.

2. Kiểm sát tạm giữ, tạm giam và Thi hành án Hình sự

- Tạm giữ: 08 đối tượng (bắt quả tang); Đã giải quyết 08 (chuyển tạm giam).

- Tạm giam: 42; Đã giải quyết: 22. Còn: 20. Trong đó: thuộc trách nhiệm cơ quan điều tra: 12 người; Tòa án: 08 người. Phạm nhân phục vụ Nhà tạm giữ 03: đúng thủ tục.

- Án tù giam: 21 (cũ: 01, mới: 20); đã thi hành 19, đình chỉ 01, uỷ thác 01. Án treo: 64 (cũ 57, mới 07), chấp hành xong 16, hiện còn 48. Cải tạo không giam giữ 03 (đã chấp hành xong). Kiểm sát trực tiếp 10/10 Uỷ ban nhân dân xã (có bị án) về thực hiện Nghị định 60, 61 của Chính Phủ và Lãnh đạo Viện tham gia kiểm sát trực tiếp Nhà tạm giữ 02 đợt; kết thúc kiểm sát có kết luận và kiến nghị bằng văn bản.

* Qua kiểm tra nhận thấy:

- Sổ tạm giữ, tạm giam, sổ kiểm sát thụ lý thi hành án hình sự, sổ theo dõi, quản lý vi phạm: Phản ánh đúng số liệu phát sinh; nội dung các cột mục ghi đầy đủ và chính xác.

- Hồ sơ thi hành án lập đầy đủ theo trình tự thời gian và đúng quy trình.

* Tuy nhiên đơn vị cần lưu ý:

- Biên bản bàn giao Quyết định THA không ghi rõ ngày, tháng, năm bàn giao (05 hồ sơ: Lữ Văn Hộ, Hồ Ngọc Châu, Võ Thái Duy, Nguyễn Công Thành, Lê Văn Tuấn); tất cà 20 hồ sơ THAHS không có phiếu báo cáo kết quả thực hành quyền công tố và xét xử sơ thẩm hình sự.

- Hồ sơ kiểm sát trực tiếp UBND xã, thị trấn về quản lý án treo còn lập chung cho tất cả các lần kiểm sát.

- Kết luận số 14 ngày 03/3/2014, về kiểm sát trực tiếp Nhà tạm giữ có nhiều nội dung nêu chưa chính xác như: “Khi ngươi bị tạm giữ, tạm giam và thi hành án không mang theo thì Nhà tạm giữ cho mượn”, “phạm nhân phục vụ Nhà tạm giữ được nghỉ ngày thứ 7, chủ nhật”, “Hàng tháng Nhà tạm giữ tổ chức cho phạm nhân nhận quà 03 lần/ tháng”.

3. Kiểm sát các vụ, việc Dân sự, Hôn nhân gia đình .., Hành chính

- Án Dân sự, HNGĐ: Toà án thụ lý: 454 vụ (cũ: 228 vụ, mới: 126 vụ) và 50 việc (cũ: 10 việc, mới 40 việc). Đã giải quyết: 197 vụ; 37 việc, trong đó: xét xử 41 vụ; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: 94 vụ; đình chỉ 61 vụ, 09 việc; chuyển 01 vụ; mở 28 phiên họp. Tạm đình chỉ 25 vụ. Còn lại 232 vụ; 13 việc.

-  Án hành chính; kinh doanh thương mại: 14 vụ (cũ: 09, mới: 05 vụ); đã giải quyết 04 vụ: xét xử 02 vụ, công nhận sự thoả thuận 02 vụ. Tạm đình chỉ 02 vụ. Còn 08 vụ.

* Qua kiểm tra nhận thấy:

- Về sổ: Có mở sổ quản lý án theo đúng quy định.

- Hồ sơ lập đúng quy định, KSV thực hiện tốt các thao tác nghiệp vụ- Ban hành 02 kháng nghị phúc thẩm, báo cáo kháng nghị phúc thẩm 02 vụ và 01 kiến nghị khắc phục vị phạm.

- Tổ chức 01 phiên toà rút kinh nghiệm (Dân sự) và đã xây dựng Quy chế phối hợp với Toà án.

* Tồn tại cần rút kinh nghiệm:

- Chưa trích cứu nội dung vụ kiện, một số hồ sơ Kiểm sát viên chưa ký tên vào đề cương xét hỏi.

- Thay đổi thành phần Hội đồng xét xử không đúng thẩm quyền (vi phạm Điều 51 Bộ luật TTDS), cần có văn bản kiến nghị Toà án khắc phục.

- Đơn vị cần có biện pháp tác động với Toà án trong việc giải quyết án hành chính tạm đình chỉ và trao đổi với Toà án đưa ra xét xử 02 vụ án hành chính đã hết thời hạn gia hạn xét xử.

- Chọn và tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm theo chỉ tiêu Kế hoạch đề ra.

4. Kiểm sát thi hành án dân sự: Số việc dân sự phải thi hành 1.156 việc (cũ 596 việc, mới 560 việc); đã thi hành xong 429 việc, đang thi hành 583 việc; số việc trả đơn yêu cầu 14 việc, số việc đình chỉ 10 việc, ủy thác 08 việc.

* Qua kiểm tra nhận thấy:

- Về sổ: Có mở sổ và ghi đầy đủ số liệu, nội dung các cột mục. Đã ban hành Quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát, Công an, Toà án và THADS.

- Các trường hợp đình chỉ, trả đơn, cưỡng chế, ủy thác đều có căn cứ; hồ sơ được lập, sắp xếp, đánh bút lục theo đúng trình tự, có phiếu đề xuất của KSV được lãnh đạo phê duyệt.

* Tuy nhiên: Biên bản xác minh điều kiện thi hành án không có chữ ký của Chấp hành viên (Trần Hùng Vương và Nguyễn Trọng Phúc); chậm ra quyết định thi hành án 02 vụ (Vụ ông Màu biên bản xác minh điều kiện THA ngày 18/12/2013 đến ngày 08/2/2014 ban hành quyết định; vụ ông Sơn biên bản xác minh điều kiện THA ngày 10/10/2013 đến ngày 21/3/2014 ban hành quyết định).

5. Công tác giải quyết Khiếu tố

- Tiếp 04 lượt công dân.

- Nhận 15 đơn. Xử lý 15 đơn, trong đó: Giải quyết 03 đơn thuộc thẩm quyền, chuyển 12 đơn đến cơ quan chức năng giải quyết theo thẩm quyền.

* Qua kiểm tra nhận thấy:

- Sổ sách: mở đầy đủ các loại sổ, ghi chép rõ ràng, đúng cột mục, trình bày sạch đẹp không tẩy xoá.

- Tiếp công dân: có bố trí lịch và nội quy tiếp công dân đúng quy định.

- Thụ lý, phân loại, xử lý đơn: đơn vị đã tiếp nhận, vào sổ thụ lý đầy đủ các loại đơn từ các nguồn chuyển đến. Việc phân loại được thực hiện đúng quy định. Từng đơn đều có lập hồ sơ đầy đủ, đánh bút lụt, sắp xếp gọn gàng theo trình tự. Đối với đơn thuộc thẩm quyền, đơn vị đã giải quyết xong và lập hồ sơ giải quyết đơn đúng quy định.

- Đã ban hành quy chế phối hợp trong công tác giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp cùng cấp.

* Tuy nhiên đơn vị còn những hạn chế:

- Không vào sổ thụ lý đối với đơn trùng: Đơn do nhiều nguồn chuyển đến bị trùng nhưng đơn vị chỉ vào sổ 01 lần, các lần khác không vào sổ là không đúng thực tế. Việc nhận đơn phải phản ánh đầy đủ vào sổ thụ lý và báo cáo là đơn trùng hoặc nhiều đơn/ 01 việc (đơn bà Lê Thị Thuỷ).

- Phân loại đơn chưa chính xác: Đơn bà Nguyễn Thị Làm yêu cầu bồi thường danh dự vì bà cho rằng mình bị vu khống. Trong trường hợp này đơn vị phải chỉ dẫn đương sự khởi kiện vụ án dân sự nhưng lại phân loại tin báo tội phạm là không chính xác.

- Đối với những đơn thuộc thẩm quyền giải quyết đơn vị không có quyết định phân công, phiếu đề xuất của Kiểm sát viên (02 đơn).

6. Thống kê, công nghệ thông tin

           ­- Đơn vị có theo dõi, cập nhật đầy đủ, chính xác, rõ ràng, đúng cột mục, có kiểm tra sửa chữa số liệu trước khi truyền gửi về tỉnh, nhất là các quan hệ về án tồn tháng trước mang sang tháng sau, hoặc các chỉ tiêu có liên quan trong cùng biểu báo cáo, giữa các biểu báo cáo với nhau.

          - Định kỳ đơn vị có truyền gửi dữ liệu đầy đủ bằng đường truyền FTP3 để kịp thời khai thác, cung cấp số liệu phục vụ các loại báo cáo, đồng thời gửi đầy đủ bản in để so sánh đối chiếu chính xác.

          - Về triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, đơn vị có quan tâm triển khai, sử dụng hộp thư điện tử của Phòng TKTP và CNTT cung cấp để gửi và nhận thư. Đơn vị có quan tâm công tác cộng tác viên, đã viết 01 tin gửi về Trang tin điện tử của Viện KSND tỉnh về hoạt động của đơn vị.

          * Tuy nhiên, đơn vị cũng còn sai sót nhỏ cần rút kinh nghiệm: Biểu 02, dòng 25, VKS huỷ bỏ quyết định tạm giữ có 01 trường hợp nhưng đơn vị kê thiếu.

7. Công tác Văn phòng

          - Đơn vị đã mở đầy đủ các loại sổ theo dõi, thời điểm mở - khóa sổ đúng quy định, Sổ ghi chép rõ ràng, đầy đủ nội dung các cột mục, có ký nhận theo đúng quy định.

          - Trong thời điểm kiểm tra đơn vị đã ban hành 57 văn bản đi và tiếp nhận 1994 văn bản đến. Công văn đi, đến được tiếp nhận tại văn thư cơ quan và được xử lý kịp thời;       - Văn bản đơn vị ban hành cơ bản đúng hình thức, thẩm quyền; thể thức, kỹ thuật soan thảo và trình bày có những tiến bộ vượt bậc, đã khắc phục triệt để những sai sót ở lần kiểm tra trước (đã mắc lỗi trang trí tiêu đề, đánh trang và nơi nhận văn bản); tiếp tục thực hiện đầy đủ việc ký tắt và lưu bản gốc văn bản.

          - Việc quản lý sổ sách, hồ sơ tài liệu, con dấu của cơ quan thực hiện chặt chẽ. Hồ sơ năm 2012, đơn vị có quan tâm tổ chức đưa vào lưu trữ (có lập mục lục hồ sơ, biên bản bàn giao và vào hộp); khi khai thác cán bộ lưu trữ thực hiện nhanh, đúng theo danh mục lập.

          * Như vậy, trong lần kiểm tra năm nay đơn vị đã tổ chức thực hiện tốt công tác văn thư, lưu trữ; không có sai sót gì cần phải rút kinh nghiệm.

NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN

Đơn vị có xây dựng báo cáo, cung cấp đầy đủ hồ sơ, sổ sách phục vụ cho đoàn kiểm tra đảm bảo đạt yêu cầu. Qua kiểm tra cho thấy những tồn tại của Đơn vị ở lần kiểm tra trước được cơ bản khắc phục; chất lượng sổ sách, hồ sơ một số khâu công tác nhất là ở lĩnh vực Văn phòng đã được nâng lên rõ rệt. Việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt khá tốt ở một số chỉ tiêu nghiệp vụ. Tuy nhiên, một số khâu công tác vẫn còn có thiếu sót nhất định (nêu trên); Đơn vị cần tổ chức rút kinh nghiệm, phát huy những ưu điểm, chú ý nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự, không để oan sai xảy ra, tập trung rà soát thực hiện hoàn thành tốt các chỉ tiêu Ngành, Quốc hội giao nhất là chỉ tiêu giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm ./.

Nơi nhận:

- Lãnh đạo Viện;

- Viện kiểm sát nhân dân Các huyện, thành phố;

- Các phòng nghiệp vụ;

- Lưu: VT.

KT. VIỆN TRƯỞNG

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

 

(đã ký)

 

Võ Minh Thưởng