(Trích Tạp chí Kiểm sát số 22-2019 tháng 11/2019 tr.56-58 của tác giả ThS.Nguyễn Văn Khánh – VKSND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre)

Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe (gọi tắt là CYGTT) là loại tội phạm rất phổ biến trong xã hội. Tuy nhiên qua thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử đối với loại tội phạm này còn tồn tại một số bất cập gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Thứ nhất, theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) kết luận giám định, định giá tài sản là một trong những nguồn chứng cứ để chứng minh trong tố tụng hình sự mà Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng phải thu thập để làm cơ sở chứng minh trong tội CYGTT. Kết luận giám định là một trong những căn cứ quan trọng để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (theo tỷ lệ %); hay nói cách khác, kết luận giám định pháp y về thương tích là một trong những nguồn chứng cứ bắt buộc phải có trong vụ án CYGTT để xác định cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng của tội phạm này. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy không phải bao giờ việc giám định pháp y về thương tích cũng thuận lợi. Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS về các trường hợp phải bắt buộc trưng cầu giám định thì có trường hợp tại khoản 4 “tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động” thuộc trường hợp phải bắt buộc trưng cầu giám định; nếu người được cơ quan trưng cầu giám định đã ra quyết định trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ tổn thương về cơ thể nhưng người bị hại từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì sẽ bị dẫn giải theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 127 BLTTHS. Đây là quy định mới trong BLTTHS hiện hành; BLTTHS năm 2003 trước đây không quy định trường hợp nào người bị hại bị dẫn giải, theo đó, nếu người bị hại từ chối giám định tỷ lệ thương tật và nếu họ có đơn từ chối giám định thì coi như họ từ bỏ quyền của mình và nếu họ đồng thời có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với đối tượng đã gây thương tích cho họ thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự (tội CYGTT thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại); vấn đề đặt ra nếu họ kiên quyết từ chối giám định tỷ lệ thương tật nhưng vẫn yêu cầu Cơ quan điều tra xử lý hình sự thì sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, trong trường hợp này, Cơ quan điều tra sẽ trưng cầu giám định thương tật dựa trên hồ sơ bệnh án và y chứng của bị hại; tuy nhiên, việc giám định trên hồ sơ sẽ không khách quan và độ chính xác không cao do Cơ quan giám định khó có thể nhận diện chính xác thương tích thực thể tại thời điểm xảy ra so với thời điểm giám định, chưa kể các tài liệu, hồ sơ bệnh án đôi khi không đầy đủ hoặc bị sai sót…nên Cơ quan giám định rất khó kết luận được tỷ lệ thương tật một cách chính xác. Khắc phục tình trạng trên, BLTTHS hiện hành đã quy định trường hợp dẫn giải đối với người bị hại để trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể, nếu bị hại từ chối thuộc trường hợp điểm b khoản 2 Điều 127 BLTTHS thì sẽ bị dẫn giải. Tuy nhiên, hiện nay việc dẫn giải người bị hại trong trường hợp trên đến cơ quan giám định gặp nhiều khó khăn do bị hại không hợp tác nhưng hiện nay vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn chi tiết quy trình dẫn giải người bị hại đến cơ quan giám định trong trường hợp bị hại không hợp tác và kiên quyết từ chối thậm chí chống cự. Bên cạnh đó, đối với trường hợp người bị tố giác, bị can sau khi nhận thông báo kết luận giám định pháp y về thương tật của bị hại nhưng không đồng ý với kết luận giám định và có đơn yêu cầu giám định lại thì theo quy định tại khoản 2 Điều 211 BLTTHS thì Cơ quan trưng cầu giám định quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tuy nhiên, trường hợp chấp nhận đề nghị giám định lại của bị can thì việc giám định lại được thực hiện. Thực tiễn cho thấy rất nhiều trường hợp người bị hại không muốn thực hiện việc giám định lại do nhiều nguyên nhân khác nhau như cho rằng kết quả giám định đã chính xác hoặc do sợ mất thời gian, ảnh hưởng đến công việc, không muốn sợ bị đau đớn về thể xác do phải tiến hành thăm khám lại vết thương để phục vụ công tác giám định lại… nhưng nếu bị hại từ chối thì vẫn tiếp tục bị dẫn giải để giám định lại. Ngoài ra, nhiều trường hợp bị hại bỏ đi khỏi nơi cư trú không xác định được họ đang ở đâu thì không thể tiến hành giám định thương tật của họ được nhưng thời gian họ trốn tránh này vẫn tính vào thời hạn giải quyết vụ án (không thuộc trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo Điều 148 BLTTHS và cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử theo quy định tại Điều 229, 247 và 281 BLTTHS) dẫn đến nhiều vụ án không thể giải quyết được do không thể tiến hành giám định thương tật của bị hại để làm căn cứ giải quyết vụ án. Do đó, liên ngành Tư pháp Trung ương cần có hướng dẫn chi tiết cụ thể về quy trình dẫn giải người bị hại phục vụ giám định, trong đó cần có quy định mở theo hướng nếu người bị hại cố tình trốn tránh từ chối giám định, giám định lại thì vụ án tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm (nếu ở giai đoạn tố giác, tin báo) và tạm đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử (nếu ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử).

Thứ hai, nhiều vụ án CYGTT mà kết luận giám định còn chưa cụ thể, rõ ràng gây khó khăn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Ví dụ: ngày 19/6/2019, Đỗ Văn K có hành vi dùng tay, chân đánh ông Đặng Văn R gây thương tích. Qua kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định ông Đặng Văn R bị vỡ bàng quang trong phúc mạc phục hồi tốt với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31% (thuộc khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Sau khi nhận thông báo kết luận giám định, Đỗ Văn K không đồng ý và có đơn yêu cầu giám định lại. Cơ quan điều tra tiến hành đưa bị hại đi giám định lại. Sau đó, Phân viện pháp y quốc gia tại thành phố H kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại Đặng Văn R là 33%, trong đó vết mổ 5% và vết lưu dẫn 1%. Như vậy, nếu không tính vết mổ và lưu dẫn thì tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại R dưới 31% (thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Có ý kiến cho rằng không tính vết mổ, vết lưu dẫn vì K chỉ gây thương tích thực thể (vỡ bàng quang) cho bị hại, còn đối những vết mổ, vết lưu dẫn này do quá trình phẩu thuật điều trị thương tích cho bị hại bác sĩ điều trị đã tạo ra, việc vết mổ lớn hay nhỏ, sâu hay cạn còn tùy thuộc vào tính chất của thương tích, kỹ thuật mổ và tay nghề của bác sĩ nên vết mổ, vết lưu dẫn nếu tính vào vết thương thì sẽ bất lợi với bị can, bị cáo. Do đó, Đỗ Văn K chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nhưng ý kiến khác cho rằng hiển nhiên phải tính cả vết mổ, vết lưu dẫn vào vết thương bởi lẽ để cứu chữa cho bị hại thì bắt buộc phải làm những thao tác tạo ra các vết này nếu không thì thương tích của bị hại hại có thể trầm trọng hơn. Do đó, bị can phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tương tự như ví dụ trên nhưng nếu tỷ lệ thương tật là 11% theo hai trường hợp phân tích trên thì lại gây ra hệ lụy nghiêm trọng hơn vì đây là trường hợp có tội (nếu tính vết mổ, vết lưu dẫn) và sẽ không có tội (nếu không tính vết mổ, vết lưu dẫn). Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Liên ngành tư pháp Trung ương cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm khắc phục những vướng mắt trên để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

Nguyễn Văn Khánh – Viện KSND huyện Ba Tri