Chào mừng bạn đã đến với website www.vksbentre.gov.vn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Chúc bạn có ngày làm việc vui vẻ và thành công !

Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện trong tố tụng hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 (Luật TTHC 2015).

Thứ nhất là người khởi kiện không có quyền khởi kiện.

Để khởi kiện vụ án hành chính, người khởi kiện phải có năng lực chủ thể tố tụng hành chính, đồng thời là người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính. Theo quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi bổ sung 1998 và 2006) quy định rõ: “Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc cán bộ, công chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định kỷ luật buộc thôi việc, nên đã khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền”. Điều 5 Luật TTHC 2015 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này”. Như vậy quyết định hành chính, hành vi hành chính không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cơ quan, tổ chức, cá nhân không được quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Thứ hai là người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ.

Khoản 2 Điều 54 Luật TTHC 2015 quy định năng lực hành vi tố tụng hành chính là “khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính”. Năng lực hành vi tố tụng hành chính là điều kiện không thể thiếu để thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính. Năng lực hành vi tố tụng hành chính xuất hiện trên cơ sở chủ thể đã có năng lực pháp luật tố tụng hành chính. Nếu như năng lực pháp luật hành chính là điều kiện “cần” thì năng lực hành vi tố tụng hành chính là điều kiện “đủ” nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì các chủ thể không thể tham gia vào quá trình tố tụng hành chính. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính được pháp luật quy định bình đẳng giữa các chủ thể, thì năng lực hành vi tố tụng hành chính lại tùy thuộc vào từng chủ thể. Khả năng thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính của người khởi kiện sẽ phụ thuộc vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ.

Đối với năng lực hành vi tố tụng hành chính trong trường hợp người khởi kiện là cá nhân, pháp luật tố tụng hành chính đòi hỏi cá nhân phải đủ độ tuổi nhất định. Độ tuổi này theo pháp luật Việt Nam quy định là từ đủ 18 tuổi, với điều kiện sức khỏe bình thường, không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Khoản 3 Điều 54 Luật TTHC 2015 quy định về năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự như sau: “Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng hành chính của họ được xác định theo quyết định của Tòa án”. Điều 22 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định mất năng lực hành vi dân sự được hiểu là: “một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi và bị Tòa tuyên là mất năng lực hành vi dân sự. Khoản 4 Điều 54 và khoản 3 Điều 25 Luật TTHC 2015 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân ngay cả trong trường hợp họ là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, pháp luật tố tụng hành chính cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật. Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự nếu như đương sự chưa có người giám hộ.

Đối với năng lực hành vi tố tụng hành chính của cơ quan, tổ chức, khoản 5 Điều 54 Luật TTHC 2015 quy định: “Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật”. Như vậy, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó và phải đảm bảo người đại diện phải có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính của một cá nhân.

Thứ ba là trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Người khởi kiện bị coi là chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính nếu chưa đáp ứng các quy định tại Điều 115 Luật TTHC 2015 về quyền khởi kiện vụ án hành chính. Cụ thể, chưa có đủ các điều kiện khởi kiện vụ án hành chính trong các trường hợp sau:

Một là cơ quan, tổ chức, cá nhân đã khởi kiện vụ án hành chính khi đang khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhưng chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

Hai là cá nhân khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhưng chưa khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, hoặc đã khiếu nại nhưng chưa hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật.

Như vậy đối với danh sách cử tri thì trước khi khởi kiện vụ án hành chính thì cá nhân phải khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính còn lại, việc khiếu nại trước khi khởi kiện không phải là thủ tục bắt buộc, nhưng một khi đã khiếu nại thì cá nhân, tổ chức phải tuân thủ đúng quy trình giải quyết khiếu nại trước khi thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Thứ tư là trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định của Pháp Luật Việt Nam, về nguyên tắc, cá nhân, tổ chức không có quyền khởi kiện đối với vụ án hành chính đã được Tòa án giải quyết bằng các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Trong tố tụng hành chính, nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án đã được ghi nhận tại Điều 23 Luật TTHC 2015: “1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó”.

Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 2 Điều 234 Luật TTHC 2015 thì trong trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Luật này quy định nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Thứ năm là trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Việc trả lại đơn khởi kiện được hiểu rằng Tòa án chỉ trả lại đơn khởi kiện đối với sự việc không thuộc thẩm quyền của hệ thống Tòa án nói chung, tức là không thuộc bất cứ một loại vụ án, vụ việc nào do Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Nếu sự việc không thuộc vụ án hành chính nhưng thuộc các vụ án, vụ việc khác của Tòa án thì Tòa án hướng dẫn người khởi kiện thực hiện lại việc khởi kiện hoặc chuyển đơn phù hợp với loại vụ án được khởi kiện.

Nếu sự việc không thuộc thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhưng thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Tòa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện phải chuyển đơn đến tòa án có thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 121 Luật TTHC 2015.

Thứ sáu là trường hợp người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại.

Đây là trường hợp người khởi kiện đã lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại sau khi vừa khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền theo quy định tại Điều 33 Luật TTHC 2015. Trong thời hạn giải quyết khiếu nại và chưa có kết quả giải quyết khiếu nại, người khiếu nại không có quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Thứ bảy là trường hợp đơn khởi kiện không có đủ nội dung.

Đơn khởi kiện phải đảm bảo đầy đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật TTHC 2015. Nếu đơn khởi kiện chưa có đủ các nội dung luật định, Tòa án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Tòa án. Quá thời hạn nói trên mà người khởi kiện không bổ sung sửa đổi đơn khởi kiện, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện.

Thứ tám là trường hợp hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 Luật TTHC 2015.

Đây là trường hợp mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án (Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí), trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng. Việc tạm ứng án phí trong tố tụng hành chính có mục đích ràng buộc trách nhiệm người khởi kiện.

Riêng đối với trường hợp có xác định thời hiệu khởi kiện đã hết là căn cứ trả lại đơn khởi kiện hay không? Vấn đề này hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án vẫn tiến hành thụ lý vụ án hành chính theo thủ tục chung. Quan điểm thứ hai cho rằng Tòa án cần trả lại đơn khởi kiện. Tôi cho rằng quan điểm thứ nhất là hợp lý bởi vì theo quy định của Luật TTHC 2015 không quy định trả lại đơn khởi kiện do “hết thời hiệu khởi kiện mà không có lý do chính đáng”. Mặt khác, khoản 4 Điều 116 Luật TTHC 2015 về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính có quy định “Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện”. Trong trường hợp này người khởi kiện cần có thời gian để thu thập các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự kiện bất khả kháng, hoặc trở ngại khách quan đó. Hơn nữa trong tố tụng hành chính thường người khởi kiện được xem là yếu thế hơn so với người bị kiện trong việc “Dân kiện quan”. Cho nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho người khởi kiện thì vấn đề thời hiệu khởi kiện cần được xem xét một cách chặt chẽ và cẩn thận, Thẩm phán nên quyết định thụ lý vụ án, nếu xác định thời hiệu khởi kiện đã hết thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật TTHC 2015.

Rất mong các đồng chí cùng nghiên cứu và trao đổi về vấn đề này./.

Du My - VKSND huyện Bình Đại

Tạo mới bình luận

Mã bảo mật
Làm mới